Mẫu Tượng Chuẩn Đề, mẹ của các Phật, bảo hộ mệnh yểu

A. TƯỢNG CHUẨN ĐỀ:

Phật Mẫu Chuẩn Đề tên Phạn là Cundì, Cunïdïhi(चुन्दी), tên chữ Hán là Thất Câu Chi Phật Mẫu hay Thất Câu Đê Phật Mẫu, Chuẩn Đề Bồ Tát. Ngài là một trong lục quan âm của Phật giáo, trong Tạng Giới Man Đa La ghi Chuẩn Đề là một trong 3 vị Phật Mẫu thuộc Biến Tri Viện.

tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de
Tôn tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề, gỗ Hương cao từ 81cm-3,6 mét của CS Phúc Minh, phiên bản duy nhất Việt Nam

Chuẩn Đề là một vị bồ tát trong trường phái Đại thừa, và đặc biệt được nhắc đến nhiều trong Kim cương thừa. Bà được xem là Bhagavathi (trong tiếng Phạn có nghĩa là “nữ thần”), hay “mẹ của các Phật”, và thường được xem là ngang hàng với Quán Thế Âm.

Chuẩn Đề được dịch ý là Hộ Trì Phật Pháp và là vị Bồ Tát thường đi lại trong Thế Gian để đập nát các Hoặc Nghiệp của tất cả chúng sinh, khiến cho kẻ đoản mệnh được thọ mệnh lâu dài, tăng tiến Phước Tuệ, đời đời xa lìa nẻo ác, mau chóng phát Tâm Bồ Đề (Bodhi-citta) và viên mãn mọi ước nguyện.

Ý nghĩa này thường được đại chúng nhận biết nhiều qua các công năng của Thần Chú Chuẩn Đề ghi trong các Kinh Quỹ.

B. LỜI GIẢNG GIẢI CỦA PHẬT THÍCH CA VỀ TÁC DỤNG CỦA VIỆC TỤNG BÀI CHÚ CHUẨN ĐỀ:

Trong bộ kinh Chuẩn Đề Đà la ni kinh (Cundī Dhāraṇī Sūtra), Đức Phật Thích Ca cũng giảng giải về tác dụng của việc tụng bài chú Chuẩn Đề. Bài chú được cho là gắn với khả năng thanh tịnh, nâng đỡ trong tự nhiên và liên quan chặt chẽ đến việc giải thoát cho bản thân.

“ Nếu có tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào thọ trì đọc tụng thần chú này mãn 80 vạn biến thì những tội ngũ vô gián đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay hết thảy đều được tiêu diệt. Sanh ra chỗ nào cũng gặp chư Phật và Bồ Tát, đời sống tư sanh tùy ý đầy đủ, đời đời thường được xuất gia, trì đủ luật nghi tịnh giới của Bồ Tát, thường sanh nhơn thiên, không đọa ác thú, thường được chư thiên thủ hộ. Nếu có những người tại gia nam nữ thường trì tụng, thì nhà kẻ ấy không có khổ não tai ương, bịnh khổ. Ra làm việc gì đều được hanh thông, nói ra lời gì đều được tín thọ.

Nếu tụng thần chú này mãn 10 vạn biến trong chiêm bao thấy được chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác tự thấy trong miệng mửa ra vật đen. Nếu có ngũ nghịch tội thì không được thấy những hảo mộng như vậy. Nên tụng mãn 70 vạn biến thì sẽ được thấy những tướng như trước cho đến mộng thấy mửa ra sắc trắng như sữa, cơm, vân vân thời phải biết người đó tội diệt, được tướng thanh tịnh”.

C. TÔN TƯỢNG CHUẨN ĐỀ:

I. HÌNH DÁNG

Tôn Tượng Chuẩn Đề có nhiều dạng: 4 tay, 6 tay, 14 tay, 18 tay… nhưng thông thường người ta hay thờ phụng Tượng Chuẩn đề 18 tay.

Thất Câu Đê Phật Mẫu Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh (do Tam Tạng BẤT KHÔNG dịch) có ghi:

“Tượng Phật Mẫu với thân màu trắng vàng, ngồi Kiết Già trên hoa sen, thân tỏa hào quang tròn có dính hạt thóc nhẹ như áo của 10 Ba La Mật Bồ Tát, phía trên bên dưới đều tác màu trắng. Lại góc áo khoác ngoài (Thiên Y) có quấn anh Lạc, đội Mão Trời, cánh tay đều đeo vòng xuyến. Đàn Tuệ (2 bàn tay) đều đeo vòng báu.

Mặt Tượng Chuẩn đề ấy có 3 mắt, 18 cánh tay. Hai tay bên trên tác tướng Thuyết Pháp

Bên phải:

  • Tay thứ hai tác Thí Vô Úy,
  • Tay thứ ba cầm cây Kiếm,
  • Tay thứ tư cầm vòng hoa báu,
  • Lòng bàn tay thứ năm cầm Cụ Duyên Quả,
  • Tay thứ sáu cầm cây Búa,
  • Tay thứ bảy cầm Móc Câu,
  • Tay thứ tám cầm chày Kim Cương,
  • Tay thứ chín cầm Tràng Hạt.

Bên trái:

  • Tay thứ hai cầm cây Phướng báu Như Ý,
  • Tay thứ ba cầm Hoa Sen hồng hé nở,
  • Tay thứ tư cầm Quân Trì,
  • Tay thứ năm cầm Sợi Dây,
  • Tay thứ sáu cầm Bánh Xe,
  • Tay thứ bảy cầm Thương Khư (Śaṅkha:Vỏ ốc),
  • Tay thứ tám cầm Hiền Bình,
  • Tay thứ chín cầm rương Kinh Bát Nhã.

Thông thường Tôn Tượng Chuẩn đề 18 tay của Chuẩn Đề Bồ Tát được thờ phượng chung với Đức Phật (hoặc cái lọng báu) ở trên đỉnh đầu.

II.  HÌNH TƯỢNG CHUẨN ĐỀ CỦA XƯỞNG PHÚC MINH

tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de
Tôn tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề, gỗ Hương cao từ 81cm-3,6 mét của CS Phúc Minh, phiên bản duy nhất Việt Nam
tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de
Tôn tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề, gỗ Hương cao từ 81cm-3,6 mét của CS Phúc Minh, phiên bản duy nhất Việt Nam
tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de
Tôn tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề, gỗ Hương cao từ 81cm-3,6 mét của CS Phúc Minh, phiên bản duy nhất Việt Nam
tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de
Tôn tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề, gỗ Hương cao từ 81cm-3,6 mét của CS Phúc Minh, phiên bản duy nhất Việt Nam
tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de
Tôn tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề, gỗ Hương cao từ 81cm-3,6 mét của CS Phúc Minh, phiên bản duy nhất Việt Nam
tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de
Tôn tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề, gỗ Hương cao từ 81cm-3,6 mét của CS Phúc Minh, phiên bản duy nhất Việt Nam

III. Ý NGHĨA PHÁP VẼ CHUẨN ĐỀ

Phía trên bên dưới tranh vẽ toàn là màu trắng: Biểu thị cho sự hiển bày Pháp Đại Bi trắng tịnh để hóa độ chúng sinh

Mọi thứ trang sức trên thân: Biểu thị cho hiện tượng Bồ Tát đi vào dòng sinh tử dùng phiền não để hiển thị Bồ Đề.

Mặt có 3 mắt : Hiện Phật Nhãn, Pháp Nhãn, Tuệ Nhãn biểu thị cho nghĩa Ba Đế chẳng dọc chẳng ngang, nhất như bình đẳng.

Thân có 18 tay: 

Hai tay thứ nhất: tác tướng thuyết Pháp biểu thị cho sự hiển bày Phật Pháp hóa độ chúng sinh. Còn lại tám tay bên trái biểu thị cho Mê Giới và tám tay bên phải biểu thị cho Phật Giới .

Hai tay thứ hai: Tay trái cầm Phướng báu tượng trưng cho Tâm Bồ Đề vốn có nơi mọi chúng sinh mà chẳng tự biết . Nay dùng tay Thí Vô Úy bên phải gia trì khiến cho hiển đắc Tâm Bồ Đề đó .

Hai tay thứ ba: Tay trái cầm hoa sen tượng trưng cho Bản Thể vô cấu nhiễm vốn có của mọi chúng sinh, nhưng do dựa vào phiền não ngăn trệ mà dư Tập khí chưa hết nên chẳng hiển lộ được vạn đức . Nay dùng cây kiếm sắc bén bên phải tượng trưng cho Đẳng Giác của Phật giới, một lần chuyển kiếm chém đứt dư Tập khí ấy khiến cho hoa sen thanh tịnh nở bày những cánh hoa vạn đức vạn thiện .

Hai tay thứ tư: Tay trái cầm bình Quân trì chứa nước Táo quán (Nước rưới vảy) tượng trưng cho Trí Tuệ vốn có của chúng sinh. Nhưng do không có Phước, không có trí như đất khô cằn chẳng có nước thấm ướt nên mầm giống Bồ Đề chẳng thể sinh trưởng được, đây tức là dựa vào phiền não mà chẳng thể phát sinh Trí Tuệ. Nay dùng tay phải cầm Tràng hạt gia trì khiến cắt đứt 108 phiền não để cho hiển đắc được nước Trí Tuệ của Như Lai rưới thấm ướt đất tâm khô cằn. Nước ấy là Đức của Trí Thủy chứa trong bình Quân Trì vậy .

Hai tay thứ năm: Tay trái cầm sợi dây tượng trưng cho sự ràng buộc cột trói chúng sinh trong nhà sinh tử, sự ràng buộc này thiên về Thức thứ tám (Ālaya-vijñāna).

Tay phải cầm Cụ Duyên Quả (Bīja-pūraka: Tử Mãn Quả) tượng trưng cho thức thứ tám là thức của tâm. Nhiều hạt giống của Pháp ở ngoài Tâm được thu nạp vào mà chẳng bị hư hoại hao tổn, lại tùy ý khiến sinh ra sự xoay chuyển làm cho Thức thứ tám lưu chuyển, chứng đắc được cảnh giới Đại Viên. Khi ấy tất cả năm ấm thuộc chủng tử
trong Thức thứ tám đều bị thiêu hủy hết nên A lại gia hiển bày Tâm Tĩnh Bồ Đề vô cấu nhiễm giống như đẳng hư không. Như vậy, dùng Cụ Duyên Quả gia trì chuyển Thức thành Trí thì dây nghiệp bị thiêu cháy hết mà ngưng nghỉ sự luân chuyển của sinh tử bản hữu .

Hai tay thứ sáu: tay trái cầm Bánh xe tượng trưng cho sự luân chuyển trong ba cõi sáu đường của các chúng sinh. Tay phải cầm cây búa là lợi khí đập nát. Nay dùng búa lớn đập nát bánh xe luân chuyển khiến nó trở thành Đức Luân Viên Cụ Túc của Như Lai .

Hai tay thứ bảy: Tay trái cầm Thương Khư (Śaṅkha) là vỏ ốc trong biển tượng trưng cho chúng sinh đang trầm luân trong biển khổ sinh tử . Nay tay phải cầm Đại Bi Câu (Móc câu Đại Bi) tiếp dẫn khiến cho đến được bờ bên kia là Niết Bàn an lạc .

Hai tay thứ tám: tay trái cầm Hiền Bình tượng trưng cho sự hòa hợp của Sắc
(Rūpa) Tâm (Citta) là nẻo sinh tử, nước trong bình tượng trưng cho sự nắm giữ tội của ba nghiệp mà lưu chuyển không cùng. Nay tay phải dùng Bạt Chiết La Tam Cổ Xử (Chày Tam Cổ Kim Cương) phá nát ba nghiệp ấy mà chan đứng dòng sinh tử.

Hai tay thứ chín: Tay trái cầm Bát Nhã Phạm Khiếp là Trí Thức sở nạp trong Tâm, do chẳng tự biết nên phải bị trầm luân trong biển khổ. Nay tay phải dùng Bảo Man (Vòng hoa báu) gia trì khiến khai phát Bản Trí ấy. Bảo Man là Tâm Tính Nghiêm vậy.

Do các nghĩa này mà Chuẩn Đề (Cuṅdhe) còn được dịch ý là MINH hoặc Diệu Giác . Đây là thành quả của Tuệ Ba La Mật và là điều kiện căn bản để phát sinh Chư Phật vậy .

XIN DÀNH 01 PHÚT XEM VIDEO NHẬN XÉT CỦA ĐĐ THÍCH CHÚC MINH, CHÙA VẠN PHƯỚC, TỈNH VŨNG TÀU, ĐI 1700KM TỚI HÀ NỘI ĐẶT TƯỢNG PHẬT CỠ LỚN.

tượng phật thích ca, tuong phat thich catuong phat, tuong quan am, tuong phat thich ca, tuong phat a di da, tuong me quan am, tuong phat ba

thiên thủ thiên nhãn, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thien thu thien nhan, thien thu thien nhan, tượng phật bà trăm tay, tuong phat ba tram tay, tượng phật bà 100 tay, tuong phat ba 100 tay, tượng phật bà 1000 tay, tuong phat ba 1000 tay, tượng phật bà nghìn tay, tuong phat ba nghin tay tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de

tuong that phat duoc su, tượng thất phật dược sư, tuong phat duoc su, tượng phật dược sư, tuong duoc su, tượng dược sư

tượng quan âm, tuong quan am, tượng mẹ quan âm, tuong me quan am, tượng phật bà, tuong phat ba, tượng quan âm bồ tát, tuong quan am bo tat, tuong phật quan âm, tuong phat quan am

tượng bán thân, tuong ban than, tượng chân dung, tuong chan dungtuong phat, tượng phật

 

Tượng Long Đầu Quán Âm

Tượng Long Đầu Quán Âm tên Phạn là Nāga-śīrottama avalokiteśvara (Long Đầu Thượng Quán Tự Tại: Đức Quán Tự Tại đứng trên đầu con Rồng) là hóa thân Trời, Rồng, Dạ Xoa trong 33 Hóa Thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Long Đầu Quán Âm là Quán Âm Quá Hải với ước nguyện cầu mong Bồ Tát Quán Thế Âm đem lại sự an vui cho muôn loài, dìu dắt chúng sinh thoát khỏi biển khổ, sông mê… giúp cho Tín Chúng sớm phát khởi Tâm Từ Bi, tỏ ngộ được Phật Tính (Buddhatā) vốn có của mình, mau chóng tu hành Chính Pháp, thực hành vạn Hạnh, chứng đắc Phật Quả (Buddha-phala).

Rồng là vua trong các loài thú để biểu thị cho uy lực của Quán Thế Âm Bồ tát; Long Vương đến mang mây mưa sấm chớp chiếu diệu khắp trời đất, thấm nhuần muôn vật, tất cả đều tán thán uy lực của Long vương. Cũng là một loại Thần Tài.

Tôn tượng Long Đầu Quán Âm được Xưởng Phúc Minh sáng tác dựa trên Ý tưởng Quán âm đứng trên đầu Rồng, từ ngoài biển khơi vượt Phong ba Bão táp vào đất liền Cứu độ Chúng sanh.

Sóng biển cuồn cuộn. Rồng trồi lên, ngụp xuống trước những cơn sóng tiến vào Đất liền. Mỗi cơn sóng chồm lên, chạm vào chân Quan Âm Bồ tát thì biến thành Bông hoa sen, và có 8 bông hoa sen quanh Ngài, tượng trưng cho Bát Chánh Đạo. Các bông Hoa sen ngả nghiêng theo chiều sóng nước do lực Rồng và sức gió.

Quanh thân Ngài mây lành bao phủ. Bạch hào tỏa quang, sáng rực sau đầu ngài, trong vòng hào quang có Tràng hạt biểu thị cho đoạn trừ 108 nỗi phiền não trong cõi Ta Bà.
Tà áo Ngài bay phần phật trước gió.

Ngài một tay nâng bình Thanh tịnh chứa nước Cam Lộ, một tay cầm nhành Dương Liễu rưới nước Cam Lộ. Nước này rưới tới đâu là chan rải tình thương tới đó, làm mát mẻ êm dịu mọi khổ đau của chúng sanh.
Rồng ngậm Ngọc Như Ý Minh Châu, chỉ có Rồng Việt Nam mới ngậm ngọc. Rồng phun mưa giúp dân có nước giúp mùa màng bội thu.

Tôn tượng Long Đầu Quán Âm vừa có ý nghĩa Cứu khổ Cứu Nạn, vừa có Ý nghĩa ban Tài Lộc.

Dáng đứng tượng Long Đầu Quán Âm tôn nghiêm, không uốn éo như tượng Phong thủy, tượng Đài Loan. Tôn tượng trang nghiêm nên dùng để thờ hoặc trưng bày nghệ thuật.

tượng long đầu quan âm, tuong long dau quan am, tuong quan am, tượng quan âm, tượng phật quan âm, tuong phat quan am
Tượng Long Đầu Quán âm, 1 trong 33 ứng hóa thân của Quan Âm Bồ Tát, cao 1m
tượng long đầu quan âm, tuong long dau quan am, tuong quan am, tượng quan âm, tượng phật quan âm, tuong phat quan am
Tượng Long Đầu Quán âm, 1 trong 33 ứng hóa thân của Quan Âm Bồ Tát, cao 1m
tượng long đầu quan âm, tuong long dau quan am, tuong quan am, tượng quan âm, tượng phật quan âm, tuong phat quan am
Tượng Long Đầu Quán âm, 1 trong 33 ứng hóa thân của Quan Âm Bồ Tát, cao 1m
tượng long đầu quan âm, tuong long dau quan am, tuong quan am, tượng quan âm, tượng phật quan âm, tuong phat quan am
Diện tượng Long Đầu Quán âm
tượng long đầu quan âm, tuong long dau quan am, tuong quan am, tượng quan âm, tượng phật quan âm, tuong phat quan am
Diện tượng Long Đầu Quán âm
tượng long đầu quan âm, tuong long dau quan am, tuong quan am, tượng quan âm, tượng phật quan âm, tuong phat quan am
Tượng Long Đầu Quán âm, 1 trong 33 ứng hóa thân của Quan Âm Bồ Tát, cao 1m
tượng long đầu quan âm, tuong long dau quan am, tuong quan am, tượng quan âm, tượng phật quan âm, tuong phat quan am
Tượng Long Đầu Quán âm, 1 trong 33 ứng hóa thân của Quan Âm Bồ Tát, cao 1m

tượng long đầu quan âm, tuong long dau quan am, tuong quan am, tượng quan âm, tượng phật quan âm, tuong phat quan am
Tượng Long Đầu Quán âm, 1 trong 33 ứng hóa thân của Quan Âm Bồ Tát, cao 1m

tượng phật thích ca, tuong phat thich catuong phat, tuong quan am, tuong phat thich ca, tuong phat a di da, tuong me quan am, tuong phat ba

thiên thủ thiên nhãn, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thien thu thien nhan, thien thu thien nhan, tượng phật bà trăm tay, tuong phat ba tram tay, tượng phật bà 100 tay, tuong phat ba 100 tay, tượng phật bà 1000 tay, tuong phat ba 1000 tay, tượng phật bà nghìn tay, tuong phat ba nghin tay tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de

tuong that phat duoc su, tượng thất phật dược sư, tuong phat duoc su, tượng phật dược sư, tuong duoc su, tượng dược sư

tượng quan âm, tuong quan am, tượng mẹ quan âm, tuong me quan am, tượng phật bà, tuong phat ba, tượng quan âm bồ tát, tuong quan am bo tat, tuong phật quan âm, tuong phat quan am

tượng bán thân, tuong ban than, tượng chân dung, tuong chan dungtuong phat, tượng phật

 

Tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm 42 thủ ấn ngồi

A. TƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUAN ÂM:

thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm – 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.

Thiên Thủ Quán Âm nếu xưng danh đầy đủ là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại (Avalokiteśvara sahasra-bhūja-locana) Hoặc xưng là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm, Thiên Thủ Thiên Tý Quán Thế Âm, Thiên Thủ Thánh Quán Âm (Sahasra bhūja arya avalokiteśvara), Thiên Tý Quán Âm, Thiên Thủ Thiên Quang Nhãn Đại Liên Hoa Vương Quán Tự Tại (Sahasra-bhūjaya sahasra-jvala-netre mahā-padma-rāja avalokiteśvara), Thiên Nhãn Thiên Thủ Thiên Túc Thiên Thiệt Thiên Tý Quán Tự Tại.

Theo Thiên Quang Nhãn Kinh, Thiên Thủ Kinh, Mẫu Đà La Ni Kinh… thì Thiên Thủ Quán Âm Bồ Tát là Thân Thần Biến của Thánh Quán Thế Âm (Ārya Avalokiteśvara ).

Theo Nghĩa Tịnh Thích Kinh thì Thiên Thủ Quán Thế Âm là Thân Sở Hóa của Đại Nhật Như Lai (Vairocana Tathāgata) Theo Thiên Thủ Thiên Nhãn Kinh thì Thiên Thủ Quán Âm là hậu thân của Chính Pháp Minh Như Lai (Samyak-dharma-vidya Tathāgata).

Nhìn chung, do Đại Nguyện Từ Bi cứu nạn bạt khổ cho tất cả chúng sinh trong Thế Giới mà thân Thiên Thủ Quán Âm được hiển hiện. Đây chính là Pháp Môn Công Đức Từ Bi Đồng Thể của chư Phật ba đời mà Thiên Thủ Quán Âm dùng 1000 làm số, trong đó :

  • Thiên Nhãn biểu thị cho 1.000 vị Phật đời quá khứ.
  • Thiên Thủ biểu thị cho 1.000 vị Phật đời hiện tại.
  • Thiên Túc biểu thị cho 1.000 vị Phật đời vị lai

(Tức là 10 hiệu của Như Lai)

B. LỜI GIỚI THIỆU CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG:

Ở vô lượng kiếp trước, với Tâm Đại Bi vô hạn, Quán Thế Âm Bồ Tát muốn cứu thoát tất cả chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử luân hồi, nên đối trước chư Phật 10 phương, Ngài phát nguyện rằng: “Nguyện cho con cứu được tất cả chúng Hữu Tình. Nếu có khi nào con mệt mỏi trong công việc lớn lao này thì nguyện cho thân con tan thành ngàn mảnh”.

Thoạt tiên Ngài xuống cõi Địa Ngục, sau đó đến cõi Ngạ Quỷ và tiến dần đến cõi Trời. Tại đấy, Ngài nhìn xuống Thế Giới đau khổ với cái nhìn thấu hiểu của Thánh Trí thì Tâm Ngài bị xúc động sâu sắc. Vì mặc dù Ngài đã cứu nhiều chúng sinh thoát khỏi Địa Ngục nhưng vẫn còn có vô số chúng sinh khác đang sa vào. Điều này làm Ngài buồn rầu vô hạn.

Trong một lúc, gần như Ngài đã mất niềm tin vào lời nguyền vĩ đại mà Ngài đã tuyên thệ và thân thể Ngài liền nổ tung thành ngàn mảnh. Giữa cơn tuyệt vọng, Ngài cầu cứu tất cả chư Phật. Ngay lập tức, hằng hà sa số chư Phật từ 10 phương đều hiện thân đến cứu giúp. Với Thần Lực nhiệm màu, chư Phật làm cho Ngài hiện trở lại toàn thân và từ đấy Ngài có 11 cái đầu, 1000 cánh tay, trên mỗi bàn tay có một con mắt.

Sự kiện này biểu thị cho sự phối hợp giữa Trí Tuệ và phương tiện thiện xảo, là dấu hiệu của Tâm Đại Bi chân thật. Trong hình thức này, Ngài đã sáng chói rực rỡ và có nhiều năng lực lớn hơn để cứu giúp chúng sinh. Do vậy Ngài còn có tên gọi là Thiên Thủ Thiên Nhãn Thập Nhất Diện Quán Thế Âm.

C. TÔN TƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUAN ÂM:

I. HÌNH DÁNG

Nghi Quỹ tạo pháp thứ tự của Thiên Thủ Quán Âm và Nhiếp Vô Ngại Đà La Ni ghi nhận là: Ngài có 500 mặt, 1000 cánh tay.

Huệ Thập A Đô Lê Sớ cho rằng ngài có 30 mặt (hay 5 mặt) và 1.000 cánh tay.

Thiên Thủ Thiên Tý Mẫu Đà La Ni Kinh ghi rằng: Ngài có 1 mặt 1.000 cánh

Thiên Quang Nhãn Kinh ghi nhận Ngài có 500 đầu mặt với 25 thân biến hoá đều có 11 mặt, 1.000 cánh tay, trong đó có 40 tay cầm báu vật.

Thai Tạng ký, Mật Giáo Hiện Đồ Thai Tạng Giới Man Trà LaQuán Tự Tại Bồ Tát Liên Hoa Đỉnh Du Già Pháp ghi nhận rằng: Ngài có 27 mặt, 1000 cánh tay trong đó 40 tay (hoặc 42 tay) cầm khí trượng.

Bí Tạng Ký ghi rằng: “Tâm phàm phu như hoa sen khép kín, tâm thánh nhân là hoa sen nở rộ”. Dựa vào ý nghĩa này thì Tôn Tượng 500 đầu mặt,1.000 cánh tay biểu thị cho Phước Trí viên mãn của Phật Quả trong đó 500 đầu mặt (một đầu mặt có 2 mắt nên hợp thành 1.000 mắt) biểu thị cho Trí Đức viên mãn và 1.000 cánh tay biểu thị cho Phước Đức viên mãn.

II.  HÌNH TƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN THẬP NHẤT DIỆN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT 42 THỦ ẤN MẬT TÔNG CỦA XƯỞNG TƯỢNG PHẬT PHÚC MINH

tac-tuong-phat

III.  Ý NGHĨA CỦA 11 MẶT TƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUAN ÂM

Thập Nhất Diện Thần Chú Tâm Kinh Nghĩa Sớ ghi là :

  • Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm - 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.
    Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm – 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.

    3 mặt phía trước có tướng hiền lành (Từ) biểu thị cho việc nhìn thấy chúng sinh hiền thiện mà sinh tâm Từ. Đại Từ là ban vui.

  • 3 mặt bên trái có tướng giận dữ biểu thị cho sự nhìn thấy chúng sinh ác mà sinh tâm Bi . Đại Bi là cứu khổ.
  • 3 mặt bên phải có tướng ló nanh trắng biểu thị cho sự nhìn thấy kẻ có Tịnh Nghiệp liền phát lời khen Hiếm có, siêng năng tinh tiến trong Phật Đạo.
  • 1 mặt phía sau có tướng Bạo Đại Tiếu biểu thị cho sự nhìn thấy chúng sinh có Thiện Ác Tạp Uế mà sinh nụ cười quái dị, sửa ác hướng theo Đạo.
  • 1 mặt bên trên có tướng Như Lai biểu thị cho sự mãn túc Nguyện.

Tiên Phòng ghi nhận là:

  • 11 mặt là 10 Địa và Phật Quả, mỗi một thứ đều có 1 mặt.
  • 10 Địa là viên mãn 10 Ba La Mật.

Dã Quyết ghi nhận là:

11 mặt là 11 Địa (Hoan Hỷ Địa, Ly Cấu Địa, Quang Địa, Diệu Tuệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, Viễn Hành Địa, Bất Động Địa, Thiện Tuệ Địa, Pháp Vân Địa, Phật Địa) biểu thị cho 11 phẩm Vô Minh, lại thêm mặt gốc biểu thị cho 12 phẩm Vô Minh. Hoặc nói là : Độ 12 nhân Duyên

  • 3 mặt phía trước có tướng Tịch Tĩnh biểu thị cho nghĩa: xưa nay vốn tịch lặng của Đông Phương Bất Động Phật
  • 3 mặt bên trái có tướng phẫn nộ biểu thị cho nghĩa: giáng phục của Nam Phương Bình Đẳng Tính Trí
  • 3 mặt bên phải có tướng ló nanh bén biểu thị cho nghĩa: nói Pháp của Tây Phương Diệu Quán Sát Trí
  • 1 mặt phía sau có tướng cười giận biểu thị cho Bắc Phương Sự Nghiệp Trí
  • 1 mặt trên cùng có tướng Phật biểu thị cho Bất Nhị Pháp Giới Thể Tính Trí.

Khẩu Quyết ghi nhận là :

  • 3 mặt phía trước có tướng Đại Từ biểu thị cho 3 vị Phật là: Thích Ca Thế Giới Năng Tịch Như Lai, An Lạc Thế Giới Vô Ngại Quang Như Lai, Cà Sa Tràng Thế Giới Kim Cương Kiên Cố Hoan Hỷ Như Lai
  • 3 mặt bên trái có tướng Đại Bi biểu thị cho 3 vị Phật là: Bất Thoái Chuyển Âm Thế Giới Cực Diệu Viên Mãn Hồng Liên Hoa Sổ Thân Như Lai, Tuyệt Trần Thế Giới Pháp Tràng Như Lai, Minh Đăng Thế Giới Sư Tử Như Lai
  • 3 mặt bên phải có tướng ló nanh trắng biểu thị cho 3 vị Phật là: Trang Nghiêm Thế Giới Nhất Thiết Phật Thông Tuệ Quang Vương Như Lai, Kích Luân Thế Giới Minh Giác Như Lai, Phổ Hiền Thế Giới Hiền Thủ Như Lai
  • 1 mặt phía sau có tướng Bạo Tiếu biểu thị cho 1 vị Phật là: Nan Siêu Thế Giới Thân Phóng Pháp Quang Như Lai
  • 1 mặt Phật trên đỉnh biểu thị cho 1 vị Phật là: Diệu Quang Thế Giới Biến Chiếu Như Lai

IV.  Ý NGHĨA CỦA 42 TAY TƯỢNG THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUAN ÂM

42 tay tướng ứng với 42 Tự Mẫu là: 

  1. Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm - 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.
    Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm – 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.

    Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ A (A_ ) thời hiện ra tay Hóa Phật, ngộ tất cả Pháp vốn chẳng sinh.

  2. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ LA (RA_ ) thời hiện ra tay cầm cái Gương báu, ngộ tất cả Pháp lìa bụi dơ.
  3. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ BẢ (PA_ ) thời hiện ra tay cầm quyển Kinh Bát Nhã, ngộ tất cả Pháp Thắng Nghĩa Đế chẳng thể đắc.
  4. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ TẢ (CA_ ) thời hiện ra tay cầm Hoa Sen tím, ngộ tất cả Pháp không có các Hành, không có sinh tử.
  5. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ NẴNG (NA_ ) thời hiện ra tay cầm viên ngọc Như Ý (Ma Ni Châu), ngộ tất cả Pháp Tính Tướng chẳng thể đắc.
  6. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ LA (LA_ ) thời hiện ra tay cầm Hoa Sen xanh, ngộ tất cả Pháp Xuất Thế Gian nên ưa thích sự vĩnh viễn chẳng hiện của CHI NHÂN DUYÊN.
  7. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ NÁ (DA _ ) thời hiện ra tay cầm cây Búa báu, ngộ tất cả Pháp điều phục tịch tĩnh Chân Như bình đẳng không có phân.
  8. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ MA (BA_ ) thời hiện ra tay cầm Chày Độc Cổ Kim Cương, ngộ tất cả Pháp lìa cột giải.
  9. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ NOA (ḌA _ ) thời hiện ra tay cầm nhành Dương Liễu, ngộ tất cả Pháp lìa nóng bức ô uế, được mát mẻ trong sạch.
  10. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ SÁI (ṢA _ ) thời hiện ra tay Vô Úy Dữ Nguyện, ngộ tất cả Pháp không có trở ngại.
  11. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ PHỘC (VA_ ) thời hiện ra tay cầm cái Chuông báu, ngộ tất cả Pháp cắt đứt đường ngôn ngữ.
  12. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ ĐA (TA_ ) thời hiện ra tay cầm Bánh Xe Kim Cương (Kim Cương Luân), ngộ tất cả Pháp Chân Như bất động.
  13. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ DÃ (YA_ ) thời hiện ra tay cầm Tràng Hạt (Sổ Châu), ngộ tất cả Pháp Như Thật chẳng sinh.
  14. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ SẮT-TRA (ṢṬA _ ) thời hiện ra tay cầm chùm Bồ Đào, ngộ tất cả Pháp về tướng Chế Phục Nhậm Trì chẳng thể đắc.
  15. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ CA (KA _ ) thời hiện ra tay Xả Ma Tha (tay trái), ngộ tất cả Pháp Tác Giả chẳng thể đắc.
  16. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ SA (SA _ ) thời hiện ra tay Tỳ Bát Sa Ma (Tay phải), ngộ tất cả Pháp THỜI Bình Đẳng Tính chẳng thể đắc. Hai tay này biểu thị cho Lý Trí kết thành Định Ấn, bên trên Ấn có đặt cái Bình Bát báu.
  17. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ MÃNG (MA _ ) thời hiện ra cầm cây Phất Trần trắng, ngộ tất cả Pháp Ngã Sở Chấp Tính chẳng thể đắc.
  18. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ NGA (GA _ ) thời hiện ra tay cầm cái Vòng Ngọc (Ngọc Hoàn), ngộ tất cả Pháp Hành Thủ Tính chẳng thể đắc.
  19. Khi BồTát Quán Thế Âm nhập vào chữ THA (THA_ ) thời hiện ra tay cầm cái rương báu (Bảo Khiếp), ngộ tất cả Pháp xứ sở chẳng thể đắc.
  20. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ NHẠ (JA _ ) thời hiện ra tay cầm Hoa Sen hồng, ngộ tất cả Pháp Năng Sở sinh khởi chẳng thể đắc.
  21. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ SA-PHỘC (SVA_ ) thời hiện ra tay cầm Sợi Dây (Quyến Sách), ngộ tất cả Pháp An Ẩn Tính chẳng thể đắc.
  22. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ ĐÀ (DHA_ ) thời hiện ra tay cầm Nhật Tinh Ma Ni, ngộ tất cả Pháp Năng Trì Giới Tính chẳng thể đắc.
  23. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ XẢ (ŚA_ ) thời hiện ra tay cầm Nguyệt Tinh Ma Ni, ngộ tất cả Pháp Tịch Tĩnh Tính chẳng thể đắc.
  24. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ KHƯ (KHA _ ) thời hiện ra tay cầm Bàng Bài, ngộ tất cả Pháp Như Hư Không Tính chẳng thể đắc.
  25. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ KHẤT-SÁI (KṢA _ ) thời hiện ra tay cầm cây Tích Trượng, ngộ tất cả Pháp Cùng Tận Tính chẳng thể đắc.
  26. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ ĐA-SA (STA _ ) thời hiện ra tay cầm Cung Điện báu, ngộ tất cả Pháp Nhậm Trì Xứ Phi Xứ khiến cho Tính Bất Động chuyển chẳng thể đắc.
  27. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ NƯƠNG (ÑA _ ) thời hiện ra tay cầm Trí Ấn, ngộ tất cả Pháp Năng Sở Tri Tính chẳng thể đắc.
  28. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ LA-THA (RTHA_ ) thời hiện ra tay cầm cây Gậy Đầu Lâu, ngộ tất cả Pháp Chấp Trước Nghĩa Tính chẳng thể đắc.
  29. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ BÀ (BHA_ ) thời hiện ra tay cầm cây kiếm báu, ngộ tất cả Pháp Khả Phá Hoại Tính chẳng thể đắc.
  30. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ THA (CHA_ ) thời hiện ra tay cầm cái Hồ Bình, ngộ tấ cả Pháp Dục Lạc Phú Tính chẳng thể đắc.
  31. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ SA-MA (SMA _ ) thời hiện ra tay cầm Hoa Sen trắng, ngộ tất cả Pháp Khả Ức Niệm Tính chẳng thể đắc.
  32. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ HA-PHỘC (HVA _ ) thời hiện ra tay cầm cây Thiết Câu, ngộ tất cả Pháp Khả Hô Triệu Tính chẳng thể đắc.
  33. Khi BồTát Quán Thế Âm nhập vào chữ ĐÁ-SA (TSA _ ) thời hiện ra tay cầm Bạt Chiết La, ngộ tất cả Pháp Dũng Kiện Tính chẳng thể đắc.
  34. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ GIÀ (GHA_ ) thời hiện ra tay Từ Niệm Định (tay trái), ngộ tất cả Pháp Nguyên (cái nguồn) Bình Đẳng Tính chẳng thể đắc.
  35. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ XÁ (ṬHA_ ) thời hiện ra tay Bi Niệm Tuệ (tay phải), ngộ tất cả Pháp Tích Tập Tính chẳng thể đắc. Hai tay Định Tuệ này hợp thành Liên Chưởng an trước ngực.
  36. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ NINH (ṆA_ ) thời hiện ra tay cầm cây Kích Sao, ngộ tất cả Pháp lìa các Huyễn Thỉnh Vô Vãng Vô Lai Hành Trụ Tọa Ngọa ( Không qua không lại, đi đứng ngồi nằm ) chẳng thể đắc.
  37. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ PHẢ (PHA_ ) thời hiện ra tay cầm cây Cung báu, ngộ tất cả Pháp Biến Mãn Quả Báo chẳng thể đắc.
  38. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhậ vào chữ XA-CA (SKA _ ) thời hiện ra tay cầm Mũi Tên báu, ngộ tất cả Pháp Tích Tụ uẩn Tính chẳng thể đắc.
  39. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ DÃ-SA (YSA_ ) thời hiện ra tay cầm cái Bình Quân Trì, ngộ tất cả Pháp Suy Lão Tính Tướng chẳng thể đắc.
  40. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ THẤT-TẢ (ŚCA_ ) thời hiện ra tay cầm đám Mây Ngũ Sắc, ngộ tất cả Pháp Tụ Tập Túc Tích chẳng thể đắc.
  41. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ TRA (ṬA_ ) thời hiện ra tay Định (tay trái), ngộ tất cả Pháp Tướng Khu Bách (thúc ép ) Tính chẳng thể đắc.
  42. Khi Bồ Tát Quán Thế Âm nhập vào chữ TRÀ (ḌHA_ ) thời hiện ra tay Tuệ (tay phải), ngộ tất cả Pháp Cứu Cánh Xứ Sở chẳng thể đắc. Hai tay Định Tuệ này hợp đưa lên trên đỉnh đầu an vị Hóa Phật thành tay Đỉnh Thượng Hóa Phật.
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm – 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm – 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm – 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
11 Diện của Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Quan âm
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
11 Diện của Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Quan âm
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
11 Diện của Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Quan âm
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
11 Diện của Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Quan âm
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
11 Diện của Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Quan âm
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao từ 82cm – 3.6m, phiên bản duy nhất Việt Nam.
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát 42 thủ ấn Mật tông cao 1.16m
thiên thủ thiên nhãn, phật bà nghìn tay, phật bà nghìn tay nghìn mắt, quan âm, tượng quan âm, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thu thien nhan
Tôn tượng Thiên thủ Thiên nhãn Thập nhất Diện Quán Thế Âm Bồ tát đứng 42 thủ ấn Mật tông cao 1.25m

IV.  LỜI ĐỨC PHẬT THÍCH CA DẠY A NAN VỀ Ý NGHĨA CỦA 42 TAY

Trích Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni:

… Như vậy tôi nghe. Một thời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi) ngồi trên Tòa Sư Tử báu trong Đạo Trường Bảo Trang Nghiêm (Ratna-vyūha-maṇḍala) tại cung điện của Quán Thế Âm trên núi Bổ Đà Lạc Ca (Potalaka). Tòa ấy toàn dùng vô lượng báu Ma Ni đủ loại để trang nghiêm với hàng trăm phan phướng báu treo bày chung quanh.

Bấy giờ, Đức Như Lai ở trên Tòa, sắp muốn diễn nói Tổng Trì Đà La Ni cho nên có vô ương số Bồ Tát Ma Ha Tát đều đến dự hội.Đức Phật bảo A Nan:

  1. Nếu người nào vì sự giàu có, mọi thứ trân bảo, vật dụng cần thiết thì nên cầu nơi bàn tay cầm viên ngọc Như Ý.
  2. Nếu người nào vì mọi thứ chẳng yên, cầu an ổn thì nên cầu nơi bàn tay cầm sợi dây (Quyến Sách)
  3. Nếu người nào vì các bệnh trong bụng thì nên cầu nơi bàn tay cầm cát bát.
  4. Nếu người nào vì giáng phục tất cả Võng Lượng, Quỷ Thần thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây kiếm báu.
  5. Nếu người nào vì giáng phục tất cả Thiên Ma, Thần thì nên cầu nơi bàn tay cầm Bạt Chiết La (Vajra: chày Tam Cổ)
  6. Nếu người nào vì tồi phục tất cả oán địch thì nên cầu nơi bàn tay cầm chày Kim Cương (chày Độc Cổ)
  7. Nếu người nào vì tất cả chốn sợ hãi, chẳng an thì nên cầu nơi bàn tay Thí Vô Úy
  8. Nếu người nào vì mắt bị mờ tối không có ánh sáng thì nên cầu nơi bàn tay cầm Nhật Tinh Ma Ni
  9. Nếu người nào vì bệnh nhiệt độc, cầu được mát mẻ thì nên cầu nơi bàn tay cầm Nguyệt Tinh Ma Ni.
  10. Nếu người nào vì thăng Quan tiến Chức thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây Cung báu.
  11. Nếu người nào vì các bằng hữu tốt, sớm được gặp nhau thì nên cầu nơi bàn tay cầm mũi tên báu.
  12. Nếu người nào vì mọi loại bệnh trên thân thì nên cầu nơi bàn tay cầm cành Dương Liễu.
  13. Nếu người nào vì trừ chướng nạn ác trên thân thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây phất trắng.
  14. Nếu người nào vì tất cả quyến thuộc khéo hòa thuận thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái Hồ Bình.
  15. Nếu người nào vì tịch trừ tất cả cọp, chó sói, báo, các thú ác thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái Bàng Bài.
  16. Nếu người nào vì tất cả Thời Xứ khéo lìa nạn quan quyền thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây búa
  17. Nếu người nào vì tôi tớ nam nữ thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái vòng ngọc.
  18. Nếu người nào vì mọi loại Công Đức thì nên cầu nơi bàn tay cầm hoa sen trắng.
  19. Nếu người nào vì muốn được sinh về Tịnh Độ ở mười phương thì nên cầu nơi bàn tay cầm hoa sen xanh.
  20. Nếu người nào vì Trí Tuệ lớn thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái gương báu.
  21. Nếu người nào vì muốn diện kiến tất cả chư Phật ở mười phương thì nên cầu nơi bàn tay cầm hoa sen tím.
  22. Nếu người nào vì kho tàng chôn vùi trong lòng đất thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái rương báu.
  23. Nếu người nào vì Tiên Đạo thì nên cầu nơi bàn tay cầm mây ngũ sắc.
  24. Nếu người nào vì sinh về cõi Phạm Thiên thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái bình Quân Trì.
  25. Nếu người nào vì sinh về cung Trời thì nên cầu nơi bàn tay cầm hoa sen hồng.
  26. Nếu người nào vì tịch trừ giặc nghịch từ phương khác đến thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây Kích báu.
  27. Nếu người nào vì hô triệu tất cả chư Thiên, Thiện Thần thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái Loa báu (vỏ ốc báu).
  28. Nếu người nào vì sai khiến tất cả Quỷ Thần thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây gậy đầu lâu.
  29. Nếu người nào vì chư Phật ở mười phương mau đến trao vào bàn tay thì nên cầu nơi bàn tay cầm tràng hạt.
  30. Nếu người nào vì thành tựu tất cả tiếng Phạm Am thượng diệu thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái chuông báu (Bảo Đạc).
  31. Nếu người nào vì Khẩu Nghiệp biện luận khéo léo thì nên cầu nơi bàn tay cầm cái An báu.
  32. Nếu người nào vì Thiện Thần, Long Vương thường đến ủng hộ thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây Câu Thi Thiết Câu.
  33. Nếu người nào vì Từ Bi che giúp tất cả chúng sinh thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây Tích Trượng.
  34. Nếu người nào vì tất cả chúng sinh thường cung kính yêu nhớ nhau thì nên cầu nơi bàn tay Hợp Chưởng.
  35. Nếu người nào vì đời đời chẳng lìa bên chư Phật thì nên cầu nơi bàn tay Hóa Phật.
  36. Nếu người nào vì đời đời kiếp kiếp thường ở trong cung điện của Phật, chẳng nhận thân ở trong bào thai thì nên cầu nơi bàn tay Hóa Cung Điện.
  37. Nếu người nào vì nghe nhiều học rộng thì nên cầu nơi bàn tay cầm quyển Kinh báu.
  38. Nếu người nào vì từ Thân hiện tại cho đến Thân Phật, Tâm Bồ Đề thường chẳng thoái chuyển thì nên cầu nơi bàn tay cầm Bất Thoái Kim Luân.
  39. Nếu người nào vì chư Phật ở mười phương mau đến xoa đỉnh đầu thọ ký thì nên cầu nơi bàn tay Đỉnh Thượng Hóa Phật.
  40. Nếu người nào vì quả trái, các thứ lúa đậu thì nên cầu nơi bàn tay cầm chùm Bồ Đào.

Như vậy, Pháp có thể cầu có cả ngàn điều. Nay chỉ lược nói chút phần mà thôi.

XIN DÀNH 01 PHÚT XEM VIDEO NHẬN XÉT CỦA ĐĐ THÍCH CHÚC MINH, CHÙA VẠN PHƯỚC, TỈNH VŨNG TÀU, ĐI 1700KM TỚI HÀ NỘI ĐẶT TƯỢNG PHẬT CỠ LỚN.


tượng phật thích ca, tuong phat thich catuong phat, tuong quan am, tuong phat thich ca, tuong phat a di da, tuong me quan am, tuong phat ba

thiên thủ thiên nhãn, tượng thiên thủ thiên nhãn, tuong thien thien thu thien nhan, thien thu thien nhan, tượng phật bà trăm tay, tuong phat ba tram tay, tượng phật bà 100 tay, tuong phat ba 100 tay, tượng phật bà 1000 tay, tuong phat ba 1000 tay, tượng phật bà nghìn tay, tuong phat ba nghin tay tượng chuẩn đề, tuong chuan de, tượng phật mẫu chuẩn đề, tuong phat mau chuan de

tuong that phat duoc su, tượng thất phật dược sư, tuong phat duoc su, tượng phật dược sư, tuong duoc su, tượng dược sư

tượng quan âm, tuong quan am, tượng mẹ quan âm, tuong me quan am, tượng phật bà, tuong phat ba, tượng quan âm bồ tát, tuong quan am bo tat, tuong phật quan âm, tuong phat quan am

tượng bán thân, tuong ban than, tượng chân dung, tuong chan dungtuong phat, tượng phật